EVN phát hành trái phiếu để trả nợ



Theo thông báo 368/TB-VPCP của văn phòng Chính phủ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sẽ có hai đề án phát hành trái phiếu cần hoàn thiện sớm trong thời gian tới.

Đó là đề án phát hành trái phiếu doanh nghiệp trị giá 10.000 tỉ đồng và đề án phát hành trái phiếu để chi trả khoản nợ tiền điện, mua nhiên liệu từ tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản và một số doanh nghiệp khác.

Liên quan đến đề án phát hành trái phiếu doanh nghiệp trị giá 10.000 tỉ đồng, phục vụ đầu tư các dự án điện, hiện bộ Công thương được Chính phủ giao chủ trì, phối hợp với bộ Tài chính và các cơ quan liên quan hướng dẫn EVN hoàn thiện; xem xét phê duyệt phương án.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thái bình Tuy nhiên, nguồn tin từ EVN cho hay, trong thời gian còn lại của năm 2012, EVN hy vọng sẽ phát hành được 5.000 tỉ đồng trong tổng số 10.000 tỉ đồng trái phiếu doanh nghiệp tại trong nước. Chính phủ chỉ đạo bộ Công thương phối hợp với bộ Tài chính, EVN khẩn trương tổ chức họp báo công bố kết quả kiểm tra giá thành sản xuất, kinh doanh điện và kết quả kiểm toán độc lập năm 2011. Bộ Công thương và bộ Tài chính cũng được giao nhiệm vụ thẩm định kế hoạch giá thành sản xuất kinh doanh điện giai đoạn năm 2013 – 2015 của EVN và lộ trình điều chỉnh giá điện năm 2013 – 2015 (trong đó có kế hoạch phân bổ các khoản lỗ của EVN), trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trong tháng 12.2012.

Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với dự thảo cam kết bảo lãnh của Chính phủ (GGU) và thư ủng hộ của Chính phủ đối với dự án liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn do bộ Công thương chủ trì dự thảo. Như vậy, dự án liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn có quy mô khoảng 8 tỉ USD với công suất 10 triệu tấn dầu thô đầu vào/năm, đã vượt qua cửa ải khó khăn nhất sau khi trải qua nhiều vòng đàm phán liên quan về GGU trong hơn hai năm qua.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hà đông
Được biết, hiện bộ Công thương đang chờ bộ Tư pháp xem xét tính pháp lý của các văn kiện liên quan, cũng như những hướng dẫn cụ thể từ phía ngân hàng Nhà nước để chính thức ký kết các văn bản này. Một quan chức cấp cao của tập đoàn Dầu khí Việt Nam, cho biết nhà đầu tư chiếm 25,1% vốn góp trong liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn (các nhà đầu tư khác là tập đoàn Dầu khí quốc tế Kuwait-KPI với 35,1%; tập đoàn Dầu khí Idemitsu Kosan Nhật Bản – IKC chiếm 35,1%; và tập đoàn Hoá chất Mitsui Nhật Bản chiếm 4,7%), hy vọng GGU sẽ được ký chính thức trong vòng một tháng và chủ đầu tư sẽ tiến hành trao thầu xây dựng dự án này theo hình thức chìa khoá trao tay cho tổ hợp nhà thầu ngay sau khi nhận được GGU.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng Theo Sgtt

[Read More...]


VNPT, Viettel sẽ đạt doanh thu "khủng" năm 2012



Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), ông Phan Hoàng Đức cho biết, chắc chắn VNPT sẽ đạt doanh thu 130.000 tỷ trong năm 2012.

Bên lề Lễ công bố tuần lễ VNPT 2012 sáng 26/11, ông Đức cho biết, mục tiêu của VNPT là lợi nhuận nhiều hơn vấn đề doanh số, doanh thu.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng “Có thể bạn đạt doanh số cao nhưng vấn đề trách nhiệm với Nhà nước và thực chất lợi nhuận là như thế nào mới là quan trọng," ông Đức nói.

Cũng theo ông Đức, năm 2012, khối công ty mẹ của VNPT có lợi nhuận tăng gấp đôi. Các khối độc lập khác như công ty VMS (MobiFone) và các đơn vị khác thì chưa có con số chính thức.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hải phòng Trước đó, trao đổi với báo chí, ông Lê Đăng Dũng, Phó Tổng giám đốc của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) tiết lộ, doanh thu năm 2012 của Viettel dự kiến đạt khoảng 140.000 tỷ đồng.

Còn nhớ năm 2011, Viettel đặt mục tiêu sơ bộ sẽ đạt doanh thu gần 110.000 tỷ đồng và sau đó đã nâng lên 130.000 tỷ đồng. Phía VNPT thì đưa doanh thu khoảng trên 120.000 tỷ đồng, sau đó cũng tăng lên 130.000 tỷ đồng. Cuối năm, con số công bố cho thấy Viettel đạt 117.000 tỉ đồng còn VNPT đạt 120.800 tỉ đồng./.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng Theo Vietnamplus

[Read More...]


Doanh nghiệp ngoại thoái vốn: Hết tiền hay cạn niềm tin?



Các DN ngoại thoái vốn, dừng đầu tư vào BĐS trong bối cảnh thị trường khó khăn kéo dài là điều bình thường. Tuy nhiên, rút lui và không có lời hứa đầu tư mới lại cho thấy những điểm bất thường.

Thoái lui vì hết vốn?

Sự kiện Tập đoàn VinaCapital vừa rao bán một nửa khách sạn Metropole tại Hà Nội, theo giải thích của ông Andy Ho, Giám đốc điều hành Tập đoàn, là chiến lược mang lại lợi nhuận cho quỹ về lâu dài. Hơn nữa, việc thoái vốn các khoản đầu tư sau một thời gian nắm giữ là hết sức bình thường. "Cứ 6 tháng một lần, các khoản đầu tư đều được đánh giá lại bởi các công ty độc lập".

Không chỉ vậy, theo ông Don Lâm, Tổng giám đốc VinaCapital, hiện đơn vị này đã thoái vốn hoàn toàn khỏi 10 dự án và có 1 dự án thoái vốn một phần trên tổng số 36 dự án. Trong đó, nhà ở gắn liền với sân vườn chiếm 80% danh mục đầu tư.

Cũng theo Tổng giám đốc VinaCapital, riêng với lĩnh vực BĐS, trong vòng 3 năm tới, VinaCapital sẽ không đầu tư mới, chỉ tập trung giải phóng các "giá trị tiềm ẩn" trong danh mục đầu tư hiện tại thông qua việc thoái vốn và hoàn vốn cho cổ đông.

Từ đầu năm đến nay, có khá nhiều DN nước ngoài tại Việt Nam cũng thoái vốn trong lĩnh vực BĐS. Trước hết, việc thoái vốn của các DN nước ngoài trong lĩnh vực BĐS là do mấy năm nay thị trường BĐS Việt Nam không còn là thị trường thu được nhiều lợi nhuận. Kinh tế khó khăn, cộng với việc thị trường BĐS lao dốc khiến cho các nhà đầu tư ngoại cũng phải "chùn bước".

Ông Phan Xuân Cần, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Bất động sản SohoVietnam nhận định, việc có nhiều DN thoái vốn khỏi BĐS cũng là cơ hội tái cơ cấu lại thị trường, giúp cho những nhà đầu tư có tiềm lực tiếp cận và phát triển dự án một cách chuyên nghiệp, hạn chế bớt sự đầu tư dàn trải trong lĩnh vực này. Nguyên nhân chủ yếu khiến nhiều doanh nghiệp phải thoái vốn khỏi các dự án là do khó khăn về tài chính. Họ cần cơ cấu lại để tập trung vào mảng kinh doanh chính và phải bán bớt tài sản của mình, trong đó có BĐS.

Còn ông Đặng Văn Quang, Giám đốc Công ty Tư vấn Bất động sản Navigat lại cho rằng, không hẳn việc các nhà đầu tư BĐS nước ngoài thoái vốn, rao bán dự án tại Việt Nam đã là do khó khăn về tài chính.



Theo phân tích của ông Quang, kinh tế thế giới khó khăn khiến các doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn. Trong khi thị trường BĐS Việt Nam bị đóng băng, việc các nhà đầu tư nước ngoài rút lui khỏi thị trường do tài chính của họ gặp khó khăn cũng chỉ là một trong những nguyên nhân, song đây không phải là nguyên nhân chính bởi hầu hết các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực BĐS đều là những doanh nghiệp lớn, khá có tiếng.

"Khó khăn về tài chính chỉ là một phần rất nhỏ, không phải là nguyên nhân chính khiến nhà đầu tư nước ngoài rui lui. Cái chính là gần đây, nhiều tổ chức đã công bố chỉ số niềm tin kinh doanh tại Việt Nam, trong đó đáng chú ý là nhiều doanh nghiệp nước ngoài sụt giảm lòng tin khi nói rằng Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn", ông Quang nhận định.

Thất vọng?

Cùng ý kiến với ông Quang, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, nếu môi trường kinh doanh tại Việt Nam giảm sút thì việc nhà đầu tư nước ngoài dễ "ra đi" là điều đương nhiên.

Có lẽ vậy, bởi bằng chứng là mới đây, theo kết quả đợt khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp châu Âu (EuroCham) trong việc khảo sát chỉ số kinh doanh của các DN châu Âu tại Việt Nam quý IV/2012 cho thấy, mức độ tin cậy và triển vọng kinh doanh trong cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam tiếp tục giảm.

Hơn 1/3 DN tiếp tục có đánh giá tiêu cực về tình hình hiện tại. Tại các DN Châu Âu, lo ngại về lạm phát ở Việt Nam vẫn còn ở mức cao với 50% DN cho rằng lạm phát có tác động căn bản đến công việc kinh doanh của họ trong trung hạn. Đồng thời cũng thể hiện sự bi quan về triển vọng kinh tế vĩ mô bởi khi được hỏi về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong vòng 6 tháng tới, chỉ 28% DN nghĩ rằng tình hình sẽ được ổn định và cải thiện dần dần.

Theo ông Preben Hjortlund, Chủ tịch EuroCham đánh giá, sự sụt giảm lòng tin vào Việt Nam như là một điểm đến đầu tư của các doanh nghiệp châu Âu.

Thời gian qua, thị trường BĐS Việt Nam đã phát triển quá nóng, thông tin về thị trường không minh bạch, cộng với xu hướng đầu tư ồ ạt để để lại hậu quả như ngày hôm nay. Gặp lúc kinh tế khó khăn, ngay lập tức nguồn vốn vào BĐS bị siết chặt, thị trường lập tức đóng băng và ngày càng lao dốc.

Nhiều DN BĐS trong nước trong tình trạng phá sản, hàng tồn kho căn hộ ngày càng nhiều, không chỉ doanh nghiệp trong nước mà nhà đầu tư nước ngoài cũng muốn thoái vốn khỏi thị trường BĐS.

Chính vì thế, ngay bản thân các chuyên gia đến từ nước ngoài cũng cho rằng, việc "phá băng" thị trường BĐS, ngoài việc chuyển đổi công năng dự án, chia nhỏ căn hộ để bán nhằm kích nguồn cầu giải phóng hàng tồn kho, bên cạnh đó, các chuyên gia cũng thừa nhận, quan trọng nhất vẫn là sự tác động của Nhà nước bằng các chính sách cụ thể để tác động đến thị trường.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quận 3 Trước hết đó là thông tin phải minh bạch nhằm rút ngắn thời gian thực hiện dự án, giảm chi phí đầu tư cho doanh nghiệp. Ngoài ra, chính sách sỡ hữu bất động sản tại Việt Nam, với những quy định khá thắt chặt như các đơn vị nước ngoài không cư trú không được phép thuê hay mua bất động sản tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài cư trú và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam được phép mua căn hộ để ở với số lượng hạn chế và chỉ dành cho mục đích để ở của chính mình.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại cầu giấy Một điều quan trọng là lãi suất ở Việt Nam là một trong những trở ngại lớn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Không chỉ lãi suất cho các doanh nghiệp vay con, mà đối với người mua nhà, mức lãi suất cũng "ngất ngưởng", trong khi thu nhập của người dân quá thấp. Giá nhà cao, lãi suất cao, khiến người lao động không dám nghĩ đến chuyện mua nhà...

"Và chính vì những điểm nghẽn nói trên đã khiến cho thị trường BĐS Việt Nam khó thu hút các nhà đầu tư bất động sản hơn", một nhà đầu tư nước ngoài thừa nhận.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại thủ đức Theo Vef

[Read More...]


Đâu là số liệu hàng tồn kho thực?



Hàng tồn kho đang được coi là một trong hai nút thắt đối với DN và nền kinh tế bên cạnh nợ xấu. Tuy nhiên, số liệu về hàng tồn kho đang rất khác nhau từ nhiều nguồn báo cáo của các bộ ngành và địa phương, đến mức mà báo chí gọi là loạn số liệu hàng tồn kho.

Hiểu đúng về hàng tồn kho

Sự khác nhau về số liệu hàng tồn kho bắt nguồn từ công tác điều tra thống kê của các cơ quan bộ ngành, nhưng một nguyên nhân làm cho số liệu hàng tồn kho bị vênh nhau quá nhiều là từ cách hiểu và cách tính chỉ số hàng tồn kho không thống nhất. Vì vậy, cần hiểu đúng về hàng tồn kho, chỉ số hàng tồn kho của các DN nói riêng và của nền kinh tế nói chung để có được một cái nhìn đúng bản chất về hàng tồn kho và từ đó có các đối sách phù hợp nhằm giải quyết nút thắt quan trọng này, góp phần khơi thông hoạt động của DN và của nền kinh tế.

Trước hết, về khái niệm hàng tồn kho. Theo quy định hiện hành về kế toán, hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng làm đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho tại DN, hàng được gửi để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường, hàng mua đang trên đường.


Cách tính khác nhau dẫn đến số liệu về hàng tồn kho khác nhau

Tùy theo loại hình sản xuất kinh doanh mà cơ cấu hàng tồn kho cũng khác nhau. Đối với các DN kinh doanh thương mại, hàng tồn kho chủ yếu là hàng mua về để bán bao gồm hàng trong kho, hàng trên đường, hàng gửi bán. Đối với DN sản xuất thì bao gồm cả nguyên vật liệu đầu vào, sản phẩm dở dang và thành phẩm chờ bán.

Xây dựng định mức hàng tồn kho hợp lý là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc đảm bảo tính liên tục trong sản xuất, tiêu thụ và hiệu quả sử dụng đồng vốn. Để đánh giá hàng tồn kho đối với một DN thông thường, nguời ta hay dùng hai chỉ số là chỉ số hàng tồn kho và hệ số vòng quay hàng tồn kho.

Về chỉ số hàng tồn kho, trên thế giới hiện đang sử dụng hai dạng chỉ số khác nhau. Đối với các nước phát triển, chỉ số hàng tồn kho được tính bằng tỷ lệ lượng hàng tồn kho trên lượng sản phẩm tiêu thụ được trong một khoảng thời gian, thông thường được tính bằng năm. Theo cách tính này thì chỉ số hàng tồn kho được coi là tốt khi nằm trong khoảng từ 5 - 6%, nếu tỷ lệ này vượt lên mức trên 8% thì được coi là cao. Tất nhiên, tỷ lệ này tùy thuộc vào từng loại hình DN và mặt hàng mà DN đó sản xuất.

Việt Nam và các nước đang phát triển hiện đang dùng khái niệm chỉ số hàng tồn là tỷ lệ giữa hàng tồn kho tại thời điểm đánh giá so với kỳ gốc. Ví dụ, nói chỉ số hàng tồn kho ngành xi măng tại thời điểm 30/6/2012 tăng 57% nghĩa là lượng xi măng tồn kho tại ngày 30/6/2012 bằng 157% so với lượng xi măng tồn kho ngày 30/6/2011. Cách tính chỉ số này nhiều khi không phản ánh thực chất tình hình hàng tồn kho vì nếu số liệu tồn kho kỳ gốc là quá thấp, hoặc không hợp lý thì chỉ số hàng tồn kho chỉ là một số ảo. Như ví dụ về số liệu hàng tồn kho xi măng tại ngày 30/6/2012 tăng 57% sẽ tạo ra một cảm giác là hàng tồn kho xi măng tại ngày 30/6/2012 đang quá cao, tuy nhiên, tại thời điểm đó, lượng xi măng tồn kho chỉ khoảng 2,8 triệu tấn, tương đương với 20 ngày tiêu thụ bình quân, một tỷ lệ không đáng lo ngại, theo lời của ông Nguyễn Trần Nam, Thứ trưởng Bộ Xây dựng.

Nếu tính theo tỷ lệ lượng tồn kho so với lượng xi măng tiêu thụ của một năm theo cách của các nước phát triển thì tỷ lệ này chỉ là 5,48%, một mức hợp lý.

“Loạn” số liệu vì lệch cách tính

Để giảm hàng tồn kho, DN có thể đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa hoặc giảm công suất sản xuất. Nếu tồn kho giảm từ nguyên nhân đẩy mạnh tiêu thụ thì sẽ tác động tích cực đến hoạt động của DN nhưng nếu giảm từ nguyên nhân giảm công suất hoặc tạm dừng sản xuất thì lại là yếu tố tiêu cực. Do vậy, đánh giá hàng tồn kho cao hay thấp, hợp lý hay không phải căn cứ vào thực tế từng DN, từng ngành sản xuất, mùa vụ và nguyên nhân tăng, giảm mới có được một kết luận khách quan và chính xác.

Một nguyên nhân làm cho số liệu hàng tồn kho đang rất vênh nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản, là sự lẫn lộn giữa 2 khái niệm hàng tồn kho và thành phẩm tồn kho. Thành phẩm tồn kho chỉ là một bộ phận trong hàng tồn kho, nó là sản phẩm cuối cùng của một quá trình sản xuất của DN có đủ điều kiện về quy cách, phẩm chất để lưu thông.

Người viết bài này không đủ dữ liệu để có thể kết luận các số liệu mà các bộ, ngành đưa ra là số liệu thành phẩm tồn kho hay là hàng tồn kho theo khái niệm về hạch toán kế toán. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào số liệu trên báo cáo

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa tài chính tại ngày 30/9/2012 của 10 công ty bất động sản đang niêm yết trên Sở GDCK TP. HCM bao gồm: BCI, HAG, ITC, NBB, NTL, PDR, QCG, TDH, HDC, VIC thì số liệu hàng tồn kho đã lên tới 35.001 tỷ đồng, còn nếu tính chung cho hơn 60 DN bất động sản niêm yết trên cả 2 Sở GDCK thì số liệu hàng tồn kho lên tới 83.804 tỷ đồng. Trong khi đó, theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng thì lượng hàng tồn kho trên 44 tỉnh thành bao gồm Hà Nội và TP. HCM đến ngày 30/8/2012 chỉ là 40.750 tỷ đồng, từ đó có thể khẳng định, con số hàng tồn kho về bất động sản mà Bộ Xây dựng công bố là thành phẩm tồn kho, bao gồm căn hộ, nhà ở thấp tầng như biệt thự, nhà liền kề, đất nền đã hoàn thiện sẵn sàng để bán. Việc này cũng giải thích tình trạng loạn về số liệu hàng tồn kho theo công bố của các tổ chức và bộ ngành. Trong khi Sở Xây dựng TP. HCM đưa ra 20.000 căn hộ tồn kho tại TP. HCM thì con số mà Hiệp hội Bất động sản Việt Nam đưa ra lên tới 47.000 căn, còn số công bố của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng chỉ là 10.108 căn.



Cần thống nhất lại

dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hà đông Để minh bạch thông tin về số liệu hàng tồn kho, các bộ ngành mà trước hết là Tổng cục Thống kê cần xây dựng lại hệ thống tiêu chí để thống kê và đánh giá hàng tồn kho, làm căn cứ thống nhất trong việc xây dựng hệ thống dữ liệu về hàng tồn kho của các ngành và của cả nền kinh tế. Nên chăng, nghiên cứu thay đổi cách tính chỉ số hàng tồn kho hiện nay dựa trên việc so sánh số liệu hàng tồn kho thời điểm hiện tại với số liệu hàng tồn kho kỳ gốc bằng chỉ số hàng tồn kho mà các nước phát triển đang sử dụng hiện nay là so sánh lượng hàng tồn kho trên lượng sản phẩm tiêu thụ được trong một năm.

Có số liệu chính xác thì mới có thể đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của hàng tồn kho lên từng DN nói riêng và cả nền kinh tế nói chung, từ đó mới có được giải pháp phù hợp để làm tan một trong hai “cục máu đông” đang làm tắc dòng chảy kinh doanh của DN và của nền kinh tế.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại thủ đức Theo Tinnhanhchungkhoan

[Read More...]


SSC sẽ dừng hồ sơ đăng ký chào bán quá 60 ngày



Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) vừa yêu cầu các công ty niêm yết bổ sung thêm một số điểm về hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng.

Cụ thể, theo Thông tư 204 /2012/TT-BTC, thời hạn bổ sung hồ sơ, các đơn vị sẽ phải thực hiện trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) có công văn yêu cầu tổ chức phát hành bổ sung, sửa đổi hồ sơ đăng ký phát hành. Nếu quá thời hạn, SSC sẽ dừng việc xem xét hồ sơ đăng ký chào bán. Đây là quy định mới, chưa được đưa ra tại các Thông tư đã ban hành trước đó.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh Mặt khác, các đơn vị cũng phải công bố thông báo phát hành trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng khoán có hiệu lực, tổ chức phát hành công bố bản thông báo phát hành trên một tờ báo điện tử hoặc báo viết có phạm vi phát hành trong toàn quốc trong 3 số liên tiếp (theo mẫu kèm theo thông tư).

Ngoài ra, các tổ chức phát hành phải báo cáo kết quả đợt chào bán chứng khoán cho SSC trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán. Sau khi gửi báo cáo kết quả chào bán cho SSC, tổ chức phát hành được giải tỏa số tiền thu được từ đợt chào bán.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại bắc ninh Một điểm đáng chú ý khác tại Thông tư 204, ngoại trừ trường hợp cổ đông lớn thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, tổ chức phát hành phải gửi hồ sơ đến Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh, thành phố nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để thực hiện thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh mới.

Như vậy, ngày hoàn thành đợt chào bán chứng khoán ra công chúng là ngày kết thúc việc thu tiền mua chứng khoán được chào bán từ các nhà đầu tư./.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng Theo Vietnamplus

[Read More...]


Đảm bảo công bằng khi đánh giá cuối năm



Một số kinh nghiệm đảm bảo yếu tố công bằng qua các kỳ đánh giá cuối năm áp dụng cho phòng ban và cấp quản lý.

Yếu tố thứ nhất là các giám đốc điều hành (CEO) thường bị tác động bởi kết quả kinh doanh cụ thể. Khi nói hoàn thành công việc thì doanh số, lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính khác thường thể hiện rõ ràng. Trái lại, các hoạt động hỗ trợ thường không thể hiện rõ ràng như vậy.

Ví dụ, doanh thu có đạt được hay không phụ thuộc vào nhân sự thực hiện tốt công tác đào tạo, phát triển và động viên nhân viên; dịch vụ khách hàng và kho vận thực hiện tốt các hoạt động hỗ trợ; phòng kế toán đưa ra các chính sách công nợ hợp lý đảm bảo doanh số tốt cho bán hàng, giảm thiểu nợ phải thu.

Tất cả các hoạt động đều được kết nối qua chuỗi giá trị trong kinh doanh. Phòng nhân sự và CEO cần phân tích rõ ràng và cụ thể, nhằm đánh giá đúng vai trò đóng góp của các bộ phận hỗ trợ. Phòng nhân sự cần thực hiện lượng hóa các giá trị do bộ phận hỗ trợ đem lại cho công ty. Các giá trị sau khi lượng hóa sẽ phản ánh cụ thể tầm quan trọng của bộ phận hỗ trợ so với bộ phận kinh doanh.

Yếu tố thứ hai là nguồn lực tiêu tốn của công ty. Phòng bán hàng có thể đạt doanh thu rất tốt, nhưng CEO cần cân nhắc lại các nguồn lực mà phòng bán hàng sử dụng như tỷ lệ giảm giá, chi phí marketing, số lượng nhân lực sử dụng. Phòng bán hàng có thể rất thành công, nhưng nếu chiết khấu cho khách hàng lớn thì kết quả cũng không thể nào đánh giá tốt được.

Tương tự, các CEO cũng cần cân nhắc tới số lượng nhân viên sử dụng hoặc chi phí marketing phòng bán hàng sử dụng trong năm. Một phương pháp đảm bảo tính công bằng trong các trường hợp này là sử dụng các chỉ tiêu đánh giá giữa đầu ra/ đầu vào hoặc hiệu số giữa doanh thu và chi phí. Các chỉ số như doanh thu/số lượng nhân viên, doanh thu/tổng chi phí, lợi nhuận thực (doanh thu trừ chi phí và các khoản phải thu) sẽ thể hiện rõ năng lực và khả năng hoàn thành công việc của các phòng ban. Điều này càng quan trọng nếu trong công ty có nhiều bộ phận bán hàng cho các loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau. Yếu tố tiêu tốn nguồn lực sẽ là yếu tố quyết định thứ hai, sau lợi nhuận, để đánh giá chính xác kết quả kinh doanh.

Yếu tố thứ ba, đó là các thay đổi trên thị trường kinh doanh có thể có tác động âm hoặc dương tới kết quả kinh doanh. Chẳng hạn, giám đốc kinh doanh địa ốc trong năm 2012 bán được 10% doanh số được giao. Kết quả đó nếu đánh giá trên tổng thể là rất kém, nhưng nếu nhìn nhận trong toàn cảnh bức tranh của ngành địa ốc thì lại là con số ấn tượng.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức Yếu tố thứ tư là tư duy thực dụng của các cấp quản lý. Các cấp quản lý thông thường tập trung vào các chỉ tiêu kinh doanh để đạt thưởng và các quyền lợi cuối năm. Trưởng phòng bán hàng sẽ cắt bỏ các chi phí về dịch vụ và đào tạo nhằm đẩy doanh thu tốt hơn. Trưởng phòng kỹ thuật sẽ tập trung vào công tác xử lý các vụ việc thay vì tiến hành đào tạo nâng cao năng lực cho phòng ban. Tư duy thực dụng sẽ đem lại những kết quả có vẻ tốt, nhưng lại ẩn chứa những rủi ro hệ thống cho công ty. Phòng bán hàng có thể có doanh số tốt, song bản thân họ tạo ra các sức ép cho phòng sản xuất, dịch vụ khách hàng và kế toán để đảm bảo quyền lợi của họ - doanh số. Tư duy thực dụng đem lại kết quả tốt cho từng phòng, ban cụ thể nhưng làm giảm sút hiệu quả và hiệu năng của toàn công ty.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại long biên Yếu tố cuối cùng, đó là năng lực vận hành. Để có một kết quả tốt và bền vững, các cấp quản lý cần một thời gian cụ thể để nâng cao năng lực vận hành. Giám đốc bán hàng phải nâng cao năng lực bán hàng, quy trình bán hàng, danh sách khách hàng, hệ thống dịch vụ. Xây dựng các năng lực đó đòi hỏi một thời gian nhất định. Các CEO và phòng nhân sự cần xác định rõ các kết quả về năng lực do cấp quản lý thực hiện trong năm. Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp, các kết quả năng lực này không được tính tới, do công ty quá thực dụng. Nói cách khác, kết quả đánh giá cần phải tập trung cả hai mảng là kết quả kinh doanh và các năng lực vận hành.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng Theo Baodautu

[Read More...]


Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập được hoàn thiện



Bộ Tài chính đang tổ chức lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập để trình Chính phủ ban hành. Nghị định quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, mức phạt, thẩm quyền xử phạt.

Giả mạo, khai man chứng từ kế toán phạt từ 20- 30 triệu đồng

Dự thảo Nghị định quy định rõ các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt và mức xử phạt trong lĩnh vực kế toán. Theo đó, phạt tiền từ 200.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Lập chứng từ kế toán không đầy đủ các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật về kế toán; Tẩy xoá, sửa chữa chứng từ kế toán; Ký chứng từ kế toán không đúng với quy định về bố trí chữ ký của các chức danh đối với từng loại chứng từ kế toán.

Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Giả mạo, khai man chứng từ kế toán; Thoả thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man chứng từ kế toán; Lập chứng từ kế toán có nội dung các liên không giống nhau trong trường hợp phải lập chứng từ kế toán có nhiều liên cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh… Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi bán hàng không lập hoá đơn bán hàng theo quy định.

Không có Giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ kiểm toán độc lập có thể bị phạt 100 triệu đồng

Đối với hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán: Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức kiểm toán thực hiện một trong các hành vi vi phạm như không nộp trả Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán cho cơ quan có thẩm quyền khi có quyết định thu hồi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Không làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán khi có thay đổi phải điều chỉnh theo quy định; hoặc làm mất, làm hỏng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán nhưng không thực hiện thủ tục đề nghị cấp lại theo quy định.

Hành vi giả mạo, sửa chữa, tẩy xóa Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Cho thuê, cho mượn, cầm cố Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000.

Có thể phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức kiểm toán vẫn tiếp tục kinh doanh các dịch vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Kiểm toán độc lập khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán.

Đối với hoạt động của DN kiểm toán, chi nhánh DN kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam nếu có hành vi vi phạm có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 80 triệu đồng.

Phải có nghĩa vụ thông báo, báo cáo về Bộ Tài chính

Dự thảo Nghị định quy định: Cảnh cáo đối với doanh nghiệp kiểm toán không thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao tài liệu cho Bộ Tài chính về việc thành lập hoặc chấm dứt hoạt động của cơ sở của doanh nghiệp kiểm toán ở nước ngoài.

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán thực hiện thông báo cho Bộ Tài chính chậm trên 15 ngày so với quy định khi có thay đổi về: Danh sách kiểm toán viên hành nghề; Tên, địa điểm đặt trụ sở chính của doanh nghiệp; Tên, địa điểm đặt trụ sở chi nhánh kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Chấm dứt hoạt động của chi nhánh kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Báo cáo tình hình hoạt động hàng năm và báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Bộ Tài chính.

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán không thực hiện thông báo cho Bộ Tài chính khi có thay đổi về: Danh sách kiểm toán viên hành nghề; Tên, địa điểm đặt trụ sở chính của doanh nghiệp; Tên, địa điểm đặt trụ sở chi nhánh kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Chấm dứt hoạt động của chi nhánh kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Báo cáo tình hình hoạt động hàng năm và báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Bộ Tài chính.

Trong trường hợp doanh nghiệp có thay đổi về Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, người đại diện theo pháp luật, tỷ lệ vốn góp của các thành viên; hoặc thực hiện việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi, giải thể không thực hiện thông báo cho Bộ Tài chính có thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000.

Chánh thanh tra Bộ Tài chính có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến mức cao nhất quy định tại Nghị định này.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
Thanh tra viên thanh tra Bộ Tài chính có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền tối đa đến 500.000 đồng đối với cá nhân vi phạm hành chính, 1.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm hành chính.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền mức cao nhất quy định tại Nghị định này; Áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại cầu giấy Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 25.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm hành chính, 50.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm hành chính; Áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có quyền xử phạt trong lĩnh vực kế toán: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm hành chính, 10.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm hành chính.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại thủ đức Theo tapchitaichinh

[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page