You are here: »
Home » All posts
Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ phát biểu tại Lễ kỹ niệm 5 năm và trao giải Cuộc bình chọn báo cáo thường niên 2012.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ
Bộ trưởng nói:
Là những người làm trong lĩnh vực chứng khoán, hơn ai hết hết, chúng ta cảm nhận rõ nhất những khó khăn đang diễn ra trong thị trường và chúng ta cố gắng vượt qua những thử thách này. Theo tôi, cái khó nhất của Thị trường chứng khoán hiện nay là phải củng cố niềm tin của Nhà đầu tư, mà cốt lõi là công khai thông tin và minh bạch hóa hoạt động của doanh nghiệp.
Do vậy, tôi đánh giá cao nỗ lực của Ban tổ chức Cuộc bình chọn Báo cáo thường niên, lấy minh bạch thông tin là tiêu chí xuyên suốt, động viên, cổ vũ các tổ chức niêm yết đã dành tâm huyết tạo nên các báo cáo thường niên có chất lượng, cung cấp thông tin, phân tích tổng hợp về mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp cho Nhà đầu tư.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
Nhìn vào kết quả đạt được trong 5 năm qua, số lượng báo cáo thường niên tham gia ngày càng tăng, từ 38 báo cáo năm đầu tiên đến 600 báo cáo ở năm thứ 5, với chất lượng ngày càng được nâng cao và nhìn vào sự ủng hộ của giới đầu tư đối với hoạt động này, tôi có thể khẳng định, chúng ta đã và đang đi đúng hướng.
Tôi chúc mừng 50 công ty niêm yết đạt giải năm nay. Sự nỗ lực của công ty chứng tỏ công cuộc xây dựng tính minh bạch, chuẩn mực, chuyên nghiệp và sáng tạo cho toàn thị trường. Tôi mong rằng, Cuộc bình chọn báo cáo thường niên trong những năm tới sẽ được phổ biến sâu rộng hơn nữa, áp dụng cho cả các doanh nghiệp đại chúng quy mô lớn, với mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng thông tin, nâng cao tính minh bạch của Thị trường chứng khoán nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hà đông
Tại lễ trao giải thưởng này, có cả mong muốn từ phía Nhà đầu tư về việc các doanh nghiệp nhà nước cũng cần thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin và tham gia Cuộc bình chọn. Nếu đơn vị nào có ý tưởng đánh giá, bình chọn báo cáo của doanh nghiệp nhà nước, thì tôi rất ủng hộ. Hiện nay, Quy chế giám sát tài chính doanh nghiệp nhà nước đang được trình Chính phủ, trong đó yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin và minh bạch thông tin.
Xin chúc Cuộc bình chọn báo cáo thường niên ngày càng nâng cao vị thế trong cộng đồng doanh nghiệp và Nhà đầu tư.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại bắc ninh
Theo Đầu tư chứng khoán
[Read More...]
Đặt vấn đề Quá trình hội tụ kế toán quốc tế ngày càng được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế về kế toán cũng như các quốc gia trên thế giới. Nhiều quốc gia đã chủ động và tích cực tham gia bằng việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/IFRS).
Thách thức của quá trình hội tụ kế toán quốc tế và những kinh nghiệm cho Việt Nam
Tuy nhiên, viễn cảnh hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn là cả một quá trình đầy thử thách bởi thực trạng việc vận dụng chuẩn mực của các quốc gia và từng khu vực theo những phương pháp tiếp cận khác nhau. Mặc dù viễn cảnh hội tụ kế toán quốc tế còn nhiều cản trở phải hướng tới để đạt được mục tiêu chung nhưng phải thừa nhận rằng hội tụ kế toán quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển. Trước tình hình đó, một quốc gia đang phát triển như Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy của xu hướng này. Song, Việt Nam cần phải nhận định đúng đắn tình hình để có những lộ trình thích hợp, đáp ứng phát triển kinh tế.
1. Tiến trình hội tụ kế toán quốc tế
Hội tụ kế toán quốc tế về cơ bản tiến triển qua các thời kỳ, cụ thể từ 1973 – 1989 là giai đoạn đầu của hòa hợp kế toán quốc tế khi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) được thành lập. Hòa hợp ở giai đoạn này chủ yếu là thu hẹp sự khác biệt kế toán các quốc gia bằng việc áp dụng chuẩn mực kế toán (CMKT) cho phép nhiều sự lựa chọn nhằm thích nghi kế toán ở các quốc gia. Tuy nhiên, chính sự “dễ dãi” này của IASC đã không đáp ứng được thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) cho người sử dụng. Trước sức ép của những người sử dụng thông tin trên BCTC cũng như tìm kiếm sự ủng hộ của các quốc gia và các tổ chức trên thế giới, giai đoạn 1989 – 1993, IASC đã có nhiều sự cải thiện đáng kể bằng việc giảm dần sự lựa chọn các phương pháp, nguyên tắc trong CMKT. Do giảm các lựa chọn nên các CMKT của IASC đã đảm bảo tính so sánh thông tin trên BCTC. Sau đó, giai đoạn 1993 - 2001, IASC đã tái cấu trúc để hình thành Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Mục đích của IASB nhằm phát triển hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế, hình thành kỷ nguyên mới hướng tới hội tụ kế toán toàn cầu.
Từ đó đến nay, quá trình hội tụ kế toán quốc tế ngày càng được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế về kế toán cũng như các quốc gia trên thế giới. Ngay những năm đầu 2005, hệ thống IAS/IFRS đã được áp dụng một cách phổ biến với 65 quốc gia ở châu Âu, Úc, Nam Phi, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á vv... đang thực thi việc áp dụng. Theo điều tra được thực hiện bởi công ty kiểm toán Deloitte (2010) với 173 quốc gia, kết quả cho thấy 123 quốc gia bắt buộc và yêu cầu áp dụng IAS/IFRS. Nếu so với những năm trước, số lượng các quốc gia áp dụng IAS/IFRS ngày càng gia tăng đáng kể.
2. Thách thức hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn
Hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn đầy thử thách, vẫn còn một khoảng cách nhất định để đạt được mục tiêu chung nhằm xây dựng chuẩn mực quốc tế chất lượng cao. Quá trình đó là bài toán phức tạp và nan giải bởi chúng xuất phát từ nhiều nguyên do khác nhau về môi trường kinh doanh, pháp lý và văn hóa trong mỗi quốc gia. Do đó, xu thế hội tụ kế toán của một số quốc gia có thể thống nhất trong chuẩn mực nhưng chưa hoàn toàn nhất quán trong thực tế.
2.1. Liên minh châu Âu
Từ những năm 1995, Liên minh châu Âu (EU) đã bắt đầu có chiến lược hội nhập kế toán. EU đã áp dụng CMKT quốc tế được IASC ban hành với mục đích thiết lập chuẩn mực được chấp nhận bởi thị trường vốn toàn cầu. Tháng 6.2000 EU đã đề nghị các công ty niêm yết lập BCTC hợp nhất theo IAS/IFRS nhưng từng IAS/IFRS phải được xác nhận và thông qua luật tổ chức EU theo qui trình tổ chức riêng biệt. Ngoài ra, tháng 3.2011, Tổ chức tư vấn BCTC của EU công bố chi tiết tiến trình hội tụ với IASB về các nội dung liên quan đến công cụ tài chính, thuê tài chính, điều kiện ghi nhận doanh thu và hợp đồng bảo hiểm. Đến 11.2011, Tổ chức này đang chờ thông qua các IFRS 1, IFRS 9, IFRS 10, IFRS 11, IFRS 12, IFRS 13 và đang chờ chỉnh sửa IAS1, IAS 12, IAS 19, IAS 21, IAS 28 cũng như điều chỉnh IFRIC 20.
Như vậy có thể thấy, về nguyên tắc chung EU áp dụng hoàn toàn với IAS/IFRS tuy nhiên việc EU thông qua từng IAS/IFRS tạo nên hệ thống chưa thật sự đồng bộ so với IAS/IFRS bởi còn một số IAS/IFRS và các hướng dẫn chưa được thông qua. Vì vậy tính thống nhất trong hệ thống chuẩn mực chưa hoàn chỉnh. Do đó, CMKT của các quốc gia EU cũng khó được nhất quán và điều này dẫn đến việc áp dụng các nguyên tắc, qui định kế toán vào thực tế của các công ty sẽ tạo ra những khác biệt nhất định.
Để làm sáng tỏ những nội dung trên, trong báo cáo của EC về việc thực thi IAS/IFRS của EU được công bố tháng 10.2007, EC đã sử dụng mô hình với 200 công ty niêm yết của 25 quốc gia trong EU của năm 2005 và 2006. Theo kết quả báo cáo, mặc dù các công ty đều áp dụng IAS/IFRS hoặc IAS/IFRS-EU (IAS/IFRS được thông qua bởi EU) nhưng các công ty của các quốc gia có những khác biệt nhất định, cụ thể: các BCTC của các công ty trình bày không rõ ràng; thiếu công bố về chính sách kế toán hoặc có công bố nhưng không phù hợp; những khác biệt trong chính sách kế toán của các công ty đối với ghi nhận doanh thu; phân loại tài sản tài chính, tài sản tài chính sẵn sàng để bán… Trên cơ sở đó, để tiếp tục đánh giá mức độ áp dụng của các công ty trong các quốc gia EU theo thời gian, EC đã phân tích 270 BCTC các quốc gia công bố năm 2006 và 2007 trong EU được EC công bố tháng 12.2008. Kết quả cho thấy những khác biệt cơ bản vẫn tồn tại trong thực tế trên BCTC của các công ty. Qua tổng kết hai báo cáo của EC, nhìn chung mức độ áp dụng trong thực tế của các công ty trong EU vẫn còn những khác biệt đáng kể. Điều đó phản ánh thực trạng rằng mặc dù áp dụng IAS/IFRS trong cùng khu vực kinh tế EU nhưng mức độ có thể khác nhau ở cấp độ quốc gia và thực tế các công ty.
Ngoài ra, để nhìn nhận một cách khách quan, một nghiên cứu độc lập của Erlend Kvaal và Christopher Nobe (2009) đã đánh giá sự khác biệt trong thực tế về chính sách kế toán của IAS/IFRS của các quốc gia. Nghiên cứu đã sử dụng các BCTC của các công ty “blue chip” của 5 thị trường chứng khoán (TTCK) lớn nhất trong năm 2005 và 2006 với 5 quốc gia Úc, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Anh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng IAS/IFRS trong thực tế còn những khác biệt đối với các quốc gia khác nhau. Như vậy, rõ ràng trong thực tế, các quốc gia được sử dụng trong nghiên cứu đã đi ngược lại mục tiêu chung là xây dựng chuẩn mực toàn cầu chất lượng cao. Hơn nữa, Stefano Cascino (2009), đã phân tích thực nghiệm về sự khác biệt trong thực tế kế toán của các công ty niêm yết Đức và Ý. Mô hình nghiên cứu chọn mẫu 354 công ty áp dụng IAS/IFRS của Đức và Ý từ năm 1998 đến 2008. Nghiên cứu thực nghiệm đã đi đến kết luận rằng các công ty Đức, Ý áp dụng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) quốc gia hơn là thực thi IAS/IFRS. Đồng thời, nghiên cứu đã minh chứng sự khác biệt trong thực tế ở mức độ quốc gia, khu vực và ngay cả đối với thực tế các công ty.
Có thể thấy, các quốc gia EU vẫn bảo lưu những quan điểm riêng trong hệ thống kế toán khu vực mặc dù EU rất tích cực tham gia quá trình xây dựng IAS/IFRS. Hội tụ kế toán quốc tế như hình thức của EU là một phương pháp tiếp cận riêng của các quốc gia trong cùng khu vực. Mặc dù trên nguyên tắc chung EU áp dụng nguyên bản IAS/IFRS nhưng vấn đề ở chỗ EU không chấp nhận toàn bộ IAS/IFRS mà phê duyệt từng chuẩn mực để áp dụng. Không những thế, thực tế các công ty của các quốc gia trong EU vẫn có những khác biệt đáng kể.
2.2. Mỹ
Hoạt động hướng tới hội tụ của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính của Mỹ (FASB) từ những năm 2002 - 2004 phải kể đến là thỏa hiệp Norwalk giữa IASB và FASB để phát triển chuẩn mực chất lượng cao. Thỏa hiệp đã nhất trí các nội dung cơ bản là tiếp tục hợp tác trong tương lai; thực hiện những dự án chung; hạn chế những khác biệt giữa nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung của Mỹ (US GAAP) và IAS/IFRS. Tuy nhiên, quá trình hợp tác là một thử thách lớn bởi tính pháp lý, sự can thiệp của các tổ chức thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa… ảnh hưởng nhất định đến lộ trình hội tụ. Một trong những vấn đề gây cản trở đó là hệ thống kế toán của Mỹ trên cơ sở qui định (rules-based) trong khi IAS/IFRS theo những nguyên tắc (priciples-based). Bên cạnh đó, hệ thống kế toán của Mỹ thực thi theo các qui định nên được hướng dẫn một cách chi tiết trong khi IAS/IFRS hạn chế những hướng dẫn. Ngoài ra hệ thống kế toán Mỹ bị chi phối bởi luật chứng khoán… Quá trình hội tụ cho thấy nhiều vấn đề khó khăn nhất định.
Mặc dù tiến trình hội nhập gặp những khó khăn nhất định nhưng Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) đã có những động thái tích cực đối với IAS/IFRS. FASB và SEC đã thảo luận các vấn đề liên quan đến hội tụ kế toán quốc tế và cũng đã có các buổi họp định kỳ giữa FASB, SEC và IASB để thảo luận hướng phát triển trong thỏa hiệp Norwalk. Ngoài ra, sự hội tụ của Mỹ thông qua SEC đã thấy sự chủ động của Mỹ khi hướng tới hệ thống chuẩn mực quốc tế. Trước đây, các công ty niêm yết sử dụng BCTC khác với Mỹ, khi niêm yết BCTC phải trình bày sự khác biệt lợi nhuận và vốn chủ sở hữu giữa GAAP của quốc gia báo cáo với US GAAP thông qua mẫu 20F (Form 20F). Thời gian gần đây, tiến trình hội tụ của Mỹ cho thấy SEC đã có những nỗ lực và thiện chí nhất định, cụ thể:
- Ngày 22.4.2005, SEC công bố lộ trình hướng tới hội tụ kế toán quốc tế theo IAS/IFRS bằng việc gỡ bỏ qui định các công ty nước ngoài niêm yết tại TTCK Mỹ có BCTC lập theo IAS/IFRS phải chỉnh hợp sang US GAAP theo Form 20F.
- Sau đó, ngày 15.11.2007 SEC đã bỏ phiếu thông qua cho phép các công ty nước ngoài niêm yết tại TTCK Mỹ được áp dụng IAS/IFRS. SEC tiến xa hơn bằng việc công bố lộ trình từ 2014 – 2016 các công ty Mỹ sẽ chuyển sang áp dụng IAS/IFRS.
- Đến ngày 27.8.2008, SEC quyết định chấp nhận sử dụng IAS/IFRS và lộ trình này là cơ sở để hình thành một chuẩn mực toàn cầu.
- Tháng 2.2010 SEC tái khẳng định lộ trình hội tụ trong thời gian đến 2015 – 2016 và vào tháng 7.2011, Chủ tịch SEC đã tuyên bố ủng hộ xây dựng hệ thống CMKT toàn cầu chất lượng cao trên cơ sở các IFRS.
Nhìn chung, sự hội tụ của FASB hướng tới CMKT quốc tế được nhiều người nhận định như phần còn lại của chuẩn mực toàn cầu. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng việc hội tụ là một thách thức lớn đối với cả hai tổ chức và hai tổ chức FASB – IASB đang khẩn trương, nỗ lực chạy nước rút cho tiến trình hội tụ và mọi vấn đề vẫn nằm ở phía trước.
2.3. Úc
Úc đã có những bước chuẩn bị nhất định cho việc chuyển đổi từ CMKT Úc sang IAS/IFRS từ năm 2002 và Úc đã chính thức chuyển sang áp dụng IAS/IFRS từ ngày 01.01.2005. Úc là một trong những quốc gia đầu tiên áp dụng IAS/IFRS. Tuy nhiên, Hội đồng chuẩn mực kế toán của Úc (AASB) đã xem xét việc ban hành IAS/IFRS tại riêng quốc gia. Theo đó, CMKT Úc đã có sự chỉnh sửa cho tương thích với môi trường pháp lý và những đặc điểm riêng biệt để phù hợp với Úc. CMKT Úc không đơn thuần là IAS/IFRS mà bản chất đã có sự thay đổi theo hình thức A-IAS/IFRS (IAS/IFRS đã được chuyển đổi theo Úc). Sự điều chỉnh của A-IAS/IFRS bao gồm những thay đổi trong việc lựa chọn được ban hành theo IAS/IFRS và bổ sung những hướng dẫn và thay đổi một số thuật ngữ khác so với IAS/IFRS. Chính sự điều chỉnh, bổ sung này dẫn đến A-IAS/IFRS không nhất quán với IAS/IFRS. Việc áp dụng IAS/IFRS theo phương cách trung lập A-IAS/IFRS của Úc đã tạo nên nhiều khác biệt không chỉ trong hệ thống CMKT mà ngay cả các công ty khi áp dụng vào thực tế.
Trong nghiên cứu về việc đo lường giá trị hợp lý, lựa chọn chính sách kế toán của hai quốc gia Anh và Úc, David Cairns et al. (2008) đã sử dụng mô hình 228 công ty tương ứng mỗi quốc gia 114 để đo lường trên BCTC những năm 2004 - 2006 với 20 khoản mục. Nhìn chung kết quả cho thấy việc thực thi IAS/IFRS của Úc không có sự khác biệt giữa trước và sau khi áp dụng IAS/IFRS. Ngoài ra, trong một nghiên cứu thực nghiệm của Tyrone Carlin, Nigel Finch (2008) nhằm xác định giá trị lợi thế thương mại được thực hiện bởi các công ty Úc áp dụng theo IAS/IFRS trong hai năm 2006 và 2007. Mô hình nghiên cứu đã sử dụng BCTC của 50 công ty niêm yết lớn nhất của Úc. Qua thực nghiệm cho thấy, mức độ các công ty áp dụng nội dung về lợi thế thương mại trên bảng cân đối kế toán hầu hết không thỏa mãn yêu cầu. Như vậy, CMKT của Úc hướng tới IAS/IFRS nhưng thực tế BCTC của các công ty không nhất quán. Các công ty không sẵn lòng thực hiện theo những yêu cầu IAS/IFRS.
Mặc dù Úc chấp nhận toàn bộ các chuẩn mực theo IAS/IFRS nhưng Úc vẫn có những điều chỉnh nhất định cho phù hợp với đặc điểm riêng của quốc gia. Việc xây dựng CMKT quốc gia như Úc là một hướng tiếp cận riêng, thể hiện chính sách trung lập trong việc thực thi CMKT quốc tế.
2.4. Trung Quốc
Bộ Tài chính (BTC) Trung Quốc bắt đầu thiết lập CMKT từ năm 1988. Cuối năm 1992, BTC đã phát triển chuẩn mực cơ bản của kế toán cho hoạt động doanh nghiệp (tương tự khuôn mẫu lý thuyết). Điều này đánh dấu sự kiện trong cải cách kế toán của Trung Quốc, bãi bỏ hệ thống kế toán truyền thống và sử dụng chuẩn mực quốc tế. Sau đó, khuôn mẫu lý thuyết ban hành năm 1992 được thay thế bởi 16 CMKT và những qui định khác như hệ thống kế toán cho hoạt động doanh nghiệp (ASBE) ban hành 2001. Mục đích của ASBE là so sánh thông tin tài chính, hạch toán tách biệt giữa thuế và kế toán, đảm bảo hội nhập với thực hành kế toán được chấp nhận bởi quốc tế. Tuy nhiên, trước sức ép hội nhập kinh tế thế giới, Trung Quốc đã chấp nhận xây dựng hệ thống CMKT mới theo hướng hội tụ kế toán quốc tế trên cơ sở IAS/IFRS gồm 38 CMKT có hiệu lực từ ngày 1.1.2007. Việc chuyển đổi chuẩn mực Trung Quốc gần với IAS/IFRS nhưng chuẩn mực mới không phải dịch lại theo IAS/IFRS mặc dù vẫn dựa trên nền tảng, nguyên tắc cơ bản. Nhìn chung, xét về hệ thống chuẩn mực, CMKT Trung Quốc đã hình thành trên nền tảng của IAS/IFRS.
Tuy nhiên, giữa CMKT Trung Quốc và IAS/IFRS có những điểm khác biệt rõ rệt, cụ thể CMKT Trung Quốc không phát triển và áp dụng đầy đủ giá trị hợp lý, yêu cầu công bố các bên liên quan được chỉnh sửa lại cũng như không thực hiện đánh giá tổn thất tài sản. Trong nghiên cứu của Jean Jinghan Chen and Peng Cheng (2007), về mức độ hội tụ của CMKT Trung Quốc và IAS/IFRS trong thực tế đi đến kết luận rằng Trung Quốc chỉ hội tụ về hình thức vì CMKT Trung Quốc được che đậy bên ngoài với IAS/IFRS nhưng thực chất Trung Quốc vẫn áp dụng chính sách kế toán doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của Tymothy Doupnik, Hector Perera (2007) nhìn nhận rằng phương cách tiếp cận của Trung Quốc mang tính “đối phó” giữa IAS/IFRS và thực tế. Phương pháp tiếp cận này thực chất chỉ là hội tụ bên ngoài, được che đậy bởi hệ thống CMKT quốc tế nhưng thực tế Trung Quốc không vận dụng theo những nguyên tắc chuẩn mực mà vẫn thực thi chính sách kế toán doanh nghiệp. Qua đó cho thấy, một thời gian dài Trung Quốc đã vận dụng “chiến thuật” nhằm thích ứng dần với những cải cách trong hệ thống kế toán quốc gia. Bản chất thận trọng vẫn được quan tâm trong việc thực thi chính sách kinh tế toàn cầu.
Trước sức ép ngày càng gia tăng từ các tổ chức quốc tế, đặc biệt trong hội nghị nhóm các quốc gia phát triển (G20) được tổ chức tại London tháng 4.2009, theo đó Trung Quốc phải xây dựng lộ trình hội tụ đầy đủ CMKT quốc tế. Trong báo cáo dự thảo của Ngân hàng thế giới được công bố tháng 10.2009 về lộ trình và tiếp tục hội tụ đầy đủ giữa ASBE với IAS/IFRS. Theo báo cáo, nhìn chung ASBE về cơ bản đã đáp ứng hội tụ CMKT quốc tế nhưng CMKT phải được hội tụ một cách toàn diện và đầy đủ. Đồng thời, ASBE cam kết giai đoạn chuyển đổi từ 2009 đến kết thúc 2011 và đã lên chương trình những nội dung cơ bản cho lộ trình hội tụ đầy đủ.
Gần đây, BTC của Trung Quốc tuyên bố quốc gia này áp dụng đầy đủ theo IFRS nhưng có một số loại trừ. Đồng thời BTC cho biết tất cả các công ty có qui mô lớn và vừa sẽ phải áp dụng theo CMKT từ năm 2012.
Nhìn chung, hội tụ kế toán quốc tế là hướng đi tích cực của các quốc gia trên thế giới. Những ích lợi từ việc sử dụng ngôn ngữ kinh tế chung toàn cầu đã giải quyết được bài toán thống nhất thông tin trình bày trên BCTC của các quốc gia, đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. Nhiều quốc gia và khu vực kinh tế thế giới đang hướng tới chuẩn mực quốc tế và tích cực ủng hộ, tham gia, chung tay góp sức trong việc xây dựng chuẩn mực quốc tế thành chuẩn mực toàn cầu chất lượng cao. Tuy nhiên, viễn cảnh hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn là cả một quá trình đầy thử thách bởi thực trạng việc vận dụng chuẩn mực quốc tế vào chính các quốc gia và từng khu vực theo những phương pháp tiếp cận khác nhau, điển hình có khu vực kinh tế như EU áp dụng thống nhất IAS/IFRS nhưng từng chuẩn mực phải được thông qua tổ chức; có quốc gia áp dụng nguyên bản IAS/IFRS như Úc nhưng có chỉnh sửa, bổ sung thể hiện chính sách trung lập trong quá trình thực thi; có quốc gia áp dụng IAS/IFRS mang tính hình thức như Trung Quốc, được thể hiện bên ngoài là IAS/IFRS nhưng thực tế vẫn thực thi chế độ, chính sách kế toán doanh nghiệp; và lại có quốc gia hình thành những “sức ép” về kinh tế, chính trị như Mỹ nhằm đạt đến sự hội tụ CMKT quốc tế nhưng “có điều kiện”. Mặc dù viễn cảnh hội tụ kế toán quốc tế còn nhiều cản trở và khó khăn phải hướng tới để đạt được mục tiêu chung nhưng hội tụ kế toán quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình quốc tế hóa kinh tế.
3. Những kinh nghiệm cho Việt Nam trong tiến trình hội tụ kế toán quốc tế
Từ phân tích trên, có thể thấy tiến trình hội tụ kế toán quốc tế là hướng đi tích cực đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa kinh tế nhưng quá trình đó cũng đầy cam go và phức tạp. Trước tình hình đó, một quốc gia đang phát triển như Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy hội nhập quốc tế. Song, Việt Nam cần phải nhận định đúng đắn tình hình để có những lộ trình thích hợp, đáp ứng phát triển kinh tế.
Có thể thấy, hệ thống kế toán Việt Nam chịu tác động bởi nhiều yếu tố tụ hội từ môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý và môi trường văn hóa. Theo thời gian, mức độ chi phối, ảnh hưởng của các yếu tố đã dần hình thành hệ thống kế toán Việt Nam mang bản sắc riêng. Xét ở môi trường kinh doanh, Việt Nam là quốc gia đang phát triển, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Nhìn chung, thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây có những biến chuyển tích cực, đặc biệt là TTCK đã có những tiến triển nhất định. Mức độ lạm phát trong nền kinh tế được kiểm soát, ổn định không ảnh hưởng đến biến động của nền kinh tế. Đối với môi trường pháp lý, Nhà nước giữ vai trò quyết định trong hệ thống kế toán quốc gia, cụ thể Luật kế toán được Quốc hội ban hành, các chế độ tài chính được ban hành bởi Thủ tướng chính phủ, hệ thống CMKT và các thông tư hướng dẫn được BTC ban hành. Bên cạnh đó, hệ thống kế toán bị chi phối bởi các qui định của thuế. Trước đây lợi nhuận kế toán gần giống lợi nhuận của thuế như các qui định trích lập khấu hao TSCĐ, doanh thu nội bộ... Tuy nhiên từ những năm 2001, những quan điểm đã dần có những thay đổi, cụ thể các đạo luật đã giảm bớt mức độ chi phối cho hoạt động kế toán bằng việc cho phép trích lập các khoản dự phòng, hình thành các khoản thuế hoãn lại… Hơn nữa, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) mặc dù thời gian hình thành và hoạt động đã lâu từ những năm 1994, nhưng không có vai trò lập qui cũng như mức độ ảnh hưởng và chi phối còn hạn chế. Riêng về môi trường văn hóa, sự tác động của văn hóa đến hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu chính thống. Tuy nhiên về cơ bản, Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều theo văn hóa Á Đông, bản chất thận trọng được đề cao, nhấn mạnh đến sự tuân thủ các qui định, hạn chế những vấn đề mang tính xét đoán.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quảng ninh
Từ những yếu tố trên, có thể thấy hệ thống kế toán Việt Nam mang những đặc điểm cơ bản: hệ thống kế toán được qui định thống nhất từ chứng từ, sổ kế toán, tài khoản và các BCTC; hệ thống kế toán còn chịu ảnh hưởng của các qui định về thuế; hệ thống kế toán liên quan đến ghi nhận và đo lường đảm bảo tính tuân thủ thể hiện qua việc ghi nhận giá gốc đối với các tài sản, hạn chế các xét đoán theo giá hợp lý và mức độ trình bày và công bố thông tin trên BCTC còn hạn chế, mang tính bảo thủ. Như vậy, có thể thấy hệ thống kế toán Việt Nam do Nhà nước giữ vai trò quyết định, chi phối đến hệ thống kế toán, không những thế kế toán còn chịu ảnh hưởng bởi các qui định của thuế.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty giá rẻ tại quận đống đa
Từ thực trạng xu hướng hội tụ kế toán quốc tế kết hợp những đặc điểm cơ bản trong hệ thống kế toán Việt Nam, cho thấy khó có thể áp dụng toàn bộ IAS/IFRS cho hệ thống kế toán Việt Nam. Hệ thống IAS/IFRS dường như thích hợp đối với những quốc gia phát triển nhưng chưa phù hợp trong điều kiện hiện tại của Việt Nam. Do đó, trong giai đoạn đầu, nên tiếp cận theo xu hướng hoàn hợp theo khu vực mà cụ thể là khu vực đối với các công ty niêm yết. Đây là hướng đi mà nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Theo đó, hệ thống CMKT Việt Nam có thể bao gồm hai phần, một phần dành cho các công ty niêm yết, phần còn lại cho các công ty không niêm yết. Đối với các công ty niêm yết, CMKT được thực thi theo các IAS/IFRS. Riêng đối với các công ty không niêm yết áp dụng các CMKT Việt Nam hiện hành nhưng theo hướng giản lược những nội dung phức tạp trong chuẩn mực. Điều này thể hiện sự hài hòa, linh hoạt nhằm tránh những biến động nhưng đảm bảo cho tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế./.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải dương
Ths. Trần Quốc Thịnh - ĐH Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh
[Read More...]
Theo thông báo 368/TB-VPCP của văn phòng Chính phủ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sẽ có hai đề án phát hành trái phiếu cần hoàn thiện sớm trong thời gian tới.
Đó là đề án phát hành trái phiếu doanh nghiệp trị giá 10.000 tỉ đồng và đề án phát hành trái phiếu để chi trả khoản nợ tiền điện, mua nhiên liệu từ tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản và một số doanh nghiệp khác.
Liên quan đến đề án phát hành trái phiếu doanh nghiệp trị giá 10.000 tỉ đồng, phục vụ đầu tư các dự án điện, hiện bộ Công thương được Chính phủ giao chủ trì, phối hợp với bộ Tài chính và các cơ quan liên quan hướng dẫn EVN hoàn thiện; xem xét phê duyệt phương án.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thái bình
Tuy nhiên, nguồn tin từ EVN cho hay, trong thời gian còn lại của năm 2012, EVN hy vọng sẽ phát hành được 5.000 tỉ đồng trong tổng số 10.000 tỉ đồng trái phiếu doanh nghiệp tại trong nước. Chính phủ chỉ đạo bộ Công thương phối hợp với bộ Tài chính, EVN khẩn trương tổ chức họp báo công bố kết quả kiểm tra giá thành sản xuất, kinh doanh điện và kết quả kiểm toán độc lập năm 2011. Bộ Công thương và bộ Tài chính cũng được giao nhiệm vụ thẩm định kế hoạch giá thành sản xuất kinh doanh điện giai đoạn năm 2013 – 2015 của EVN và lộ trình điều chỉnh giá điện năm 2013 – 2015 (trong đó có kế hoạch phân bổ các khoản lỗ của EVN), trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trong tháng 12.2012.
Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với dự thảo cam kết bảo lãnh của Chính phủ (GGU) và thư ủng hộ của Chính phủ đối với dự án liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn do bộ Công thương chủ trì dự thảo. Như vậy, dự án liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn có quy mô khoảng 8 tỉ USD với công suất 10 triệu tấn dầu thô đầu vào/năm, đã vượt qua cửa ải khó khăn nhất sau khi trải qua nhiều vòng đàm phán liên quan về GGU trong hơn hai năm qua.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hà đông
Được biết, hiện bộ Công thương đang chờ bộ Tư pháp xem xét tính pháp lý của các văn kiện liên quan, cũng như những hướng dẫn cụ thể từ phía ngân hàng Nhà nước để chính thức ký kết các văn bản này. Một quan chức cấp cao của tập đoàn Dầu khí Việt Nam, cho biết nhà đầu tư chiếm 25,1% vốn góp trong liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn (các nhà đầu tư khác là tập đoàn Dầu khí quốc tế Kuwait-KPI với 35,1%; tập đoàn Dầu khí Idemitsu Kosan Nhật Bản – IKC chiếm 35,1%; và tập đoàn Hoá chất Mitsui Nhật Bản chiếm 4,7%), hy vọng GGU sẽ được ký chính thức trong vòng một tháng và chủ đầu tư sẽ tiến hành trao thầu xây dựng dự án này theo hình thức chìa khoá trao tay cho tổ hợp nhà thầu ngay sau khi nhận được GGU.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng
Theo Sgtt
[Read More...]
Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), ông Phan Hoàng Đức cho biết, chắc chắn VNPT sẽ đạt doanh thu 130.000 tỷ trong năm 2012.
Bên lề Lễ công bố tuần lễ VNPT 2012 sáng 26/11, ông Đức cho biết, mục tiêu của VNPT là lợi nhuận nhiều hơn vấn đề doanh số, doanh thu.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
“Có thể bạn đạt doanh số cao nhưng vấn đề trách nhiệm với Nhà nước và thực chất lợi nhuận là như thế nào mới là quan trọng," ông Đức nói.
Cũng theo ông Đức, năm 2012, khối công ty mẹ của VNPT có lợi nhuận tăng gấp đôi. Các khối độc lập khác như công ty VMS (MobiFone) và các đơn vị khác thì chưa có con số chính thức.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hải phòng
Trước đó, trao đổi với báo chí, ông Lê Đăng Dũng, Phó Tổng giám đốc của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) tiết lộ, doanh thu năm 2012 của Viettel dự kiến đạt khoảng 140.000 tỷ đồng.
Còn nhớ năm 2011, Viettel đặt mục tiêu sơ bộ sẽ đạt doanh thu gần 110.000 tỷ đồng và sau đó đã nâng lên 130.000 tỷ đồng. Phía VNPT thì đưa doanh thu khoảng trên 120.000 tỷ đồng, sau đó cũng tăng lên 130.000 tỷ đồng. Cuối năm, con số công bố cho thấy Viettel đạt 117.000 tỉ đồng còn VNPT đạt 120.800 tỉ đồng./.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng
Theo Vietnamplus
[Read More...]
Các DN ngoại thoái vốn, dừng đầu tư vào BĐS trong bối cảnh thị trường khó khăn kéo dài là điều bình thường. Tuy nhiên, rút lui và không có lời hứa đầu tư mới lại cho thấy những điểm bất thường.
Thoái lui vì hết vốn?
Sự kiện Tập đoàn VinaCapital vừa rao bán một nửa khách sạn Metropole tại Hà Nội, theo giải thích của ông Andy Ho, Giám đốc điều hành Tập đoàn, là chiến lược mang lại lợi nhuận cho quỹ về lâu dài. Hơn nữa, việc thoái vốn các khoản đầu tư sau một thời gian nắm giữ là hết sức bình thường. "Cứ 6 tháng một lần, các khoản đầu tư đều được đánh giá lại bởi các công ty độc lập".
Không chỉ vậy, theo ông Don Lâm, Tổng giám đốc VinaCapital, hiện đơn vị này đã thoái vốn hoàn toàn khỏi 10 dự án và có 1 dự án thoái vốn một phần trên tổng số 36 dự án. Trong đó, nhà ở gắn liền với sân vườn chiếm 80% danh mục đầu tư.
Cũng theo Tổng giám đốc VinaCapital, riêng với lĩnh vực BĐS, trong vòng 3 năm tới, VinaCapital sẽ không đầu tư mới, chỉ tập trung giải phóng các "giá trị tiềm ẩn" trong danh mục đầu tư hiện tại thông qua việc thoái vốn và hoàn vốn cho cổ đông.
Từ đầu năm đến nay, có khá nhiều DN nước ngoài tại Việt Nam cũng thoái vốn trong lĩnh vực BĐS. Trước hết, việc thoái vốn của các DN nước ngoài trong lĩnh vực BĐS là do mấy năm nay thị trường BĐS Việt Nam không còn là thị trường thu được nhiều lợi nhuận. Kinh tế khó khăn, cộng với việc thị trường BĐS lao dốc khiến cho các nhà đầu tư ngoại cũng phải "chùn bước".
Ông Phan Xuân Cần, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Bất động sản SohoVietnam nhận định, việc có nhiều DN thoái vốn khỏi BĐS cũng là cơ hội tái cơ cấu lại thị trường, giúp cho những nhà đầu tư có tiềm lực tiếp cận và phát triển dự án một cách chuyên nghiệp, hạn chế bớt sự đầu tư dàn trải trong lĩnh vực này. Nguyên nhân chủ yếu khiến nhiều doanh nghiệp phải thoái vốn khỏi các dự án là do khó khăn về tài chính. Họ cần cơ cấu lại để tập trung vào mảng kinh doanh chính và phải bán bớt tài sản của mình, trong đó có BĐS.
Còn ông Đặng Văn Quang, Giám đốc Công ty Tư vấn Bất động sản Navigat lại cho rằng, không hẳn việc các nhà đầu tư BĐS nước ngoài thoái vốn, rao bán dự án tại Việt Nam đã là do khó khăn về tài chính.
Theo phân tích của ông Quang, kinh tế thế giới khó khăn khiến các doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn. Trong khi thị trường BĐS Việt Nam bị đóng băng, việc các nhà đầu tư nước ngoài rút lui khỏi thị trường do tài chính của họ gặp khó khăn cũng chỉ là một trong những nguyên nhân, song đây không phải là nguyên nhân chính bởi hầu hết các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực BĐS đều là những doanh nghiệp lớn, khá có tiếng.
"Khó khăn về tài chính chỉ là một phần rất nhỏ, không phải là nguyên nhân chính khiến nhà đầu tư nước ngoài rui lui. Cái chính là gần đây, nhiều tổ chức đã công bố chỉ số niềm tin kinh doanh tại Việt Nam, trong đó đáng chú ý là nhiều doanh nghiệp nước ngoài sụt giảm lòng tin khi nói rằng Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn", ông Quang nhận định.
Thất vọng?
Cùng ý kiến với ông Quang, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, nếu môi trường kinh doanh tại Việt Nam giảm sút thì việc nhà đầu tư nước ngoài dễ "ra đi" là điều đương nhiên.
Có lẽ vậy, bởi bằng chứng là mới đây, theo kết quả đợt khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp châu Âu (EuroCham) trong việc khảo sát chỉ số kinh doanh của các DN châu Âu tại Việt Nam quý IV/2012 cho thấy, mức độ tin cậy và triển vọng kinh doanh trong cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam tiếp tục giảm.
Hơn 1/3 DN tiếp tục có đánh giá tiêu cực về tình hình hiện tại. Tại các DN Châu Âu, lo ngại về lạm phát ở Việt Nam vẫn còn ở mức cao với 50% DN cho rằng lạm phát có tác động căn bản đến công việc kinh doanh của họ trong trung hạn. Đồng thời cũng thể hiện sự bi quan về triển vọng kinh tế vĩ mô bởi khi được hỏi về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong vòng 6 tháng tới, chỉ 28% DN nghĩ rằng tình hình sẽ được ổn định và cải thiện dần dần.
Theo ông Preben Hjortlund, Chủ tịch EuroCham đánh giá, sự sụt giảm lòng tin vào Việt Nam như là một điểm đến đầu tư của các doanh nghiệp châu Âu.
Thời gian qua, thị trường BĐS Việt Nam đã phát triển quá nóng, thông tin về thị trường không minh bạch, cộng với xu hướng đầu tư ồ ạt để để lại hậu quả như ngày hôm nay. Gặp lúc kinh tế khó khăn, ngay lập tức nguồn vốn vào BĐS bị siết chặt, thị trường lập tức đóng băng và ngày càng lao dốc.
Nhiều DN BĐS trong nước trong tình trạng phá sản, hàng tồn kho căn hộ ngày càng nhiều, không chỉ doanh nghiệp trong nước mà nhà đầu tư nước ngoài cũng muốn thoái vốn khỏi thị trường BĐS.
Chính vì thế, ngay bản thân các chuyên gia đến từ nước ngoài cũng cho rằng, việc "phá băng" thị trường BĐS, ngoài việc chuyển đổi công năng dự án, chia nhỏ căn hộ để bán nhằm kích nguồn cầu giải phóng hàng tồn kho, bên cạnh đó, các chuyên gia cũng thừa nhận, quan trọng nhất vẫn là sự tác động của Nhà nước bằng các chính sách cụ thể để tác động đến thị trường.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quận 3
Trước hết đó là thông tin phải minh bạch nhằm rút ngắn thời gian thực hiện dự án, giảm chi phí đầu tư cho doanh nghiệp. Ngoài ra, chính sách sỡ hữu bất động sản tại Việt Nam, với những quy định khá thắt chặt như các đơn vị nước ngoài không cư trú không được phép thuê hay mua bất động sản tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài cư trú và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam được phép mua căn hộ để ở với số lượng hạn chế và chỉ dành cho mục đích để ở của chính mình.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại cầu giấy
Một điều quan trọng là lãi suất ở Việt Nam là một trong những trở ngại lớn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Không chỉ lãi suất cho các doanh nghiệp vay con, mà đối với người mua nhà, mức lãi suất cũng "ngất ngưởng", trong khi thu nhập của người dân quá thấp. Giá nhà cao, lãi suất cao, khiến người lao động không dám nghĩ đến chuyện mua nhà...
"Và chính vì những điểm nghẽn nói trên đã khiến cho thị trường BĐS Việt Nam khó thu hút các nhà đầu tư bất động sản hơn", một nhà đầu tư nước ngoài thừa nhận.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại thủ đức
Theo Vef
[Read More...]
Hàng tồn kho đang được coi là một trong hai nút thắt đối với DN và nền kinh tế bên cạnh nợ xấu. Tuy nhiên, số liệu về hàng tồn kho đang rất khác nhau từ nhiều nguồn báo cáo của các bộ ngành và địa phương, đến mức mà báo chí gọi là loạn số liệu hàng tồn kho.
Hiểu đúng về hàng tồn kho
Sự khác nhau về số liệu hàng tồn kho bắt nguồn từ công tác điều tra thống kê của các cơ quan bộ ngành, nhưng một nguyên nhân làm cho số liệu hàng tồn kho bị vênh nhau quá nhiều là từ cách hiểu và cách tính chỉ số hàng tồn kho không thống nhất. Vì vậy, cần hiểu đúng về hàng tồn kho, chỉ số hàng tồn kho của các DN nói riêng và của nền kinh tế nói chung để có được một cái nhìn đúng bản chất về hàng tồn kho và từ đó có các đối sách phù hợp nhằm giải quyết nút thắt quan trọng này, góp phần khơi thông hoạt động của DN và của nền kinh tế.
Trước hết, về khái niệm hàng tồn kho. Theo quy định hiện hành về kế toán, hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng làm đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho tại DN, hàng được gửi để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường, hàng mua đang trên đường.
Cách tính khác nhau dẫn đến số liệu về hàng tồn kho khác nhau
Tùy theo loại hình sản xuất kinh doanh mà cơ cấu hàng tồn kho cũng khác nhau. Đối với các DN kinh doanh thương mại, hàng tồn kho chủ yếu là hàng mua về để bán bao gồm hàng trong kho, hàng trên đường, hàng gửi bán. Đối với DN sản xuất thì bao gồm cả nguyên vật liệu đầu vào, sản phẩm dở dang và thành phẩm chờ bán.
Xây dựng định mức hàng tồn kho hợp lý là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc đảm bảo tính liên tục trong sản xuất, tiêu thụ và hiệu quả sử dụng đồng vốn. Để đánh giá hàng tồn kho đối với một DN thông thường, nguời ta hay dùng hai chỉ số là chỉ số hàng tồn kho và hệ số vòng quay hàng tồn kho.
Về chỉ số hàng tồn kho, trên thế giới hiện đang sử dụng hai dạng chỉ số khác nhau. Đối với các nước phát triển, chỉ số hàng tồn kho được tính bằng tỷ lệ lượng hàng tồn kho trên lượng sản phẩm tiêu thụ được trong một khoảng thời gian, thông thường được tính bằng năm. Theo cách tính này thì chỉ số hàng tồn kho được coi là tốt khi nằm trong khoảng từ 5 - 6%, nếu tỷ lệ này vượt lên mức trên 8% thì được coi là cao. Tất nhiên, tỷ lệ này tùy thuộc vào từng loại hình DN và mặt hàng mà DN đó sản xuất.
Việt Nam và các nước đang phát triển hiện đang dùng khái niệm chỉ số hàng tồn là tỷ lệ giữa hàng tồn kho tại thời điểm đánh giá so với kỳ gốc. Ví dụ, nói chỉ số hàng tồn kho ngành xi măng tại thời điểm 30/6/2012 tăng 57% nghĩa là lượng xi măng tồn kho tại ngày 30/6/2012 bằng 157% so với lượng xi măng tồn kho ngày 30/6/2011. Cách tính chỉ số này nhiều khi không phản ánh thực chất tình hình hàng tồn kho vì nếu số liệu tồn kho kỳ gốc là quá thấp, hoặc không hợp lý thì chỉ số hàng tồn kho chỉ là một số ảo. Như ví dụ về số liệu hàng tồn kho xi măng tại ngày 30/6/2012 tăng 57% sẽ tạo ra một cảm giác là hàng tồn kho xi măng tại ngày 30/6/2012 đang quá cao, tuy nhiên, tại thời điểm đó, lượng xi măng tồn kho chỉ khoảng 2,8 triệu tấn, tương đương với 20 ngày tiêu thụ bình quân, một tỷ lệ không đáng lo ngại, theo lời của ông Nguyễn Trần Nam, Thứ trưởng Bộ Xây dựng.
Nếu tính theo tỷ lệ lượng tồn kho so với lượng xi măng tiêu thụ của một năm theo cách của các nước phát triển thì tỷ lệ này chỉ là 5,48%, một mức hợp lý.
“Loạn” số liệu vì lệch cách tính
Để giảm hàng tồn kho, DN có thể đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa hoặc giảm công suất sản xuất. Nếu tồn kho giảm từ nguyên nhân đẩy mạnh tiêu thụ thì sẽ tác động tích cực đến hoạt động của DN nhưng nếu giảm từ nguyên nhân giảm công suất hoặc tạm dừng sản xuất thì lại là yếu tố tiêu cực. Do vậy, đánh giá hàng tồn kho cao hay thấp, hợp lý hay không phải căn cứ vào thực tế từng DN, từng ngành sản xuất, mùa vụ và nguyên nhân tăng, giảm mới có được một kết luận khách quan và chính xác.
Một nguyên nhân làm cho số liệu hàng tồn kho đang rất vênh nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản, là sự lẫn lộn giữa 2 khái niệm hàng tồn kho và thành phẩm tồn kho. Thành phẩm tồn kho chỉ là một bộ phận trong hàng tồn kho, nó là sản phẩm cuối cùng của một quá trình sản xuất của DN có đủ điều kiện về quy cách, phẩm chất để lưu thông.
Người viết bài này không đủ dữ liệu để có thể kết luận các số liệu mà các bộ, ngành đưa ra là số liệu thành phẩm tồn kho hay là hàng tồn kho theo khái niệm về hạch toán kế toán. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào số liệu trên báo cáo
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa
tài chính tại ngày 30/9/2012 của 10 công ty bất động sản đang niêm yết trên Sở GDCK TP. HCM bao gồm: BCI, HAG, ITC, NBB, NTL, PDR, QCG, TDH, HDC, VIC thì số liệu hàng tồn kho đã lên tới 35.001 tỷ đồng, còn nếu tính chung cho hơn 60 DN bất động sản niêm yết trên cả 2 Sở GDCK thì số liệu hàng tồn kho lên tới 83.804 tỷ đồng. Trong khi đó, theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng thì lượng hàng tồn kho trên 44 tỉnh thành bao gồm Hà Nội và TP. HCM đến ngày 30/8/2012 chỉ là 40.750 tỷ đồng, từ đó có thể khẳng định, con số hàng tồn kho về bất động sản mà Bộ Xây dựng công bố là thành phẩm tồn kho, bao gồm căn hộ, nhà ở thấp tầng như biệt thự, nhà liền kề, đất nền đã hoàn thiện sẵn sàng để bán. Việc này cũng giải thích tình trạng loạn về số liệu hàng tồn kho theo công bố của các tổ chức và bộ ngành. Trong khi Sở Xây dựng TP. HCM đưa ra 20.000 căn hộ tồn kho tại TP. HCM thì con số mà Hiệp hội Bất động sản Việt Nam đưa ra lên tới 47.000 căn, còn số công bố của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng chỉ là 10.108 căn.
Cần thống nhất lại
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hà đông
Để minh bạch thông tin về số liệu hàng tồn kho, các bộ ngành mà trước hết là Tổng cục Thống kê cần xây dựng lại hệ thống tiêu chí để thống kê và đánh giá hàng tồn kho, làm căn cứ thống nhất trong việc xây dựng hệ thống dữ liệu về hàng tồn kho của các ngành và của cả nền kinh tế. Nên chăng, nghiên cứu thay đổi cách tính chỉ số hàng tồn kho hiện nay dựa trên việc so sánh số liệu hàng tồn kho thời điểm hiện tại với số liệu hàng tồn kho kỳ gốc bằng chỉ số hàng tồn kho mà các nước phát triển đang sử dụng hiện nay là so sánh lượng hàng tồn kho trên lượng sản phẩm tiêu thụ được trong một năm.
Có số liệu chính xác thì mới có thể đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của hàng tồn kho lên từng DN nói riêng và cả nền kinh tế nói chung, từ đó mới có được giải pháp phù hợp để làm tan một trong hai “cục máu đông” đang làm tắc dòng chảy kinh doanh của DN và của nền kinh tế.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại thủ đức
Theo Tinnhanhchungkhoan
[Read More...]
Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) vừa yêu cầu các công ty niêm yết bổ sung thêm một số điểm về hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng.
Cụ thể, theo Thông tư 204 /2012/TT-BTC, thời hạn bổ sung hồ sơ, các đơn vị sẽ phải thực hiện trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) có công văn yêu cầu tổ chức phát hành bổ sung, sửa đổi hồ sơ đăng ký phát hành. Nếu quá thời hạn, SSC sẽ dừng việc xem xét hồ sơ đăng ký chào bán. Đây là quy định mới, chưa được đưa ra tại các Thông tư đã ban hành trước đó.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Mặt khác, các đơn vị cũng phải công bố thông báo phát hành trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng khoán có hiệu lực, tổ chức phát hành công bố bản thông báo phát hành trên một tờ báo điện tử hoặc báo viết có phạm vi phát hành trong toàn quốc trong 3 số liên tiếp (theo mẫu kèm theo thông tư).
Ngoài ra, các tổ chức phát hành phải báo cáo kết quả đợt chào bán chứng khoán cho SSC trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán. Sau khi gửi báo cáo kết quả chào bán cho SSC, tổ chức phát hành được giải tỏa số tiền thu được từ đợt chào bán.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại bắc ninh
Một điểm đáng chú ý khác tại Thông tư 204, ngoại trừ trường hợp cổ đông lớn thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, tổ chức phát hành phải gửi hồ sơ đến Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh, thành phố nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để thực hiện thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh mới.
Như vậy, ngày hoàn thành đợt chào bán chứng khoán ra công chúng là ngày kết thúc việc thu tiền mua chứng khoán được chào bán từ các nhà đầu tư./.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng
Theo Vietnamplus
[Read More...]